Lượt xem: 54
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, liên tục, lâu dài của Đảng ta. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, nó hình thành từ yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Do đó, muốn có nhận thức sâu sắc về tư tưởng Hồ Chí Minh, cần nghiên cứu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trước hết, về tư tưởng Hồ Chí Minh:
* Chúng ta lần lượt tìm hiểu (sơ lược) tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường của cách mạng Việt Nam 
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người
Độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa, quyền lợi dân tộc giải phóng cao hết thảy, với tinh thần đó Người khẳng định quyết tâm: “Dù hy sinh tới đâu, dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập”và “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(HCM toàn tập, tập 4, trang 534).
Cho nên, Người khẳng định: Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau; giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết. Độc lập dân tộc mà chưa giành được thì vấn đề giai cấp cũng không giải quyết được; giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp. 
Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc trước hết là phải giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc là sức mạnh của toàn dân tộc, Người nhấn mạnh vai trò, động lực cách mạng của công nhân và nông dân, là lực lượng nòng cốt trong Khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và con người được khẳng định trước toàn thế giới qua Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người soạn thảo. Thừa nhận những “lời bất hủ” trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) và “những lẽ phải không thể chối cãi được” của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (HCM toàn tập, tập 4, trang 1). Nâng quyền tự nhiên của con người lên thành quyền dân tộc và gắn chặt quyền con người với quyền dân tộc; Người đã đặt nền tảng cho một trật tự và pháp lý quốc tế mới về quyền con người và bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện sự nhất quán trong tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tập trung những luận điểm sáng tạo lớn về lý luận, là sự phản ánh mục đích, lý tưởng khát vọng và ham muốn tột bậc của danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh: Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặt vấn đề giải phóng con người, hạnh phúc của con người là mục tiêu cao cả nhất của cách mạng,...
Độc lập dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để nhân dân lao động tự quyết định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời đại mới, chủ nghĩa xã hội là xu hướng phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Cách mạng Việt Nam thuộc phạm trù cách mạng vô sản. Điều đó, quyết định vai trò lãnh đạo cách mạng tất yếu thuộc về giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Lực lượng tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân Việt Nam yêu nước mà nòng cốt là khối liên minh công - nông - trí thức; những nhân tố này, lại quy định tính tất yếu dẫn đến phương hướng phát triển lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng giải phóng dân tộc. Độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn liền với đời sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ; chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới đảm bảo cho nền độc lập thật sự, chân chính. 
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, về mục tiêu, động lực, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Người chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài” (HCM toàn tập, tập 11, trang 216); những nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trước hết là giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước; phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức và tài, đáp ứng yếu cầu sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người còn chỉ rõ: “Ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ hai bàn tay trắng đi lên thì khó khăn còn nhiều và lâu dài” (HCM toàn tập, tập 15, trang 681);
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, trong đó lấy xây dựng làm chính. Về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều luận điểm, tư tưởng chỉ đạo sáng suốt, có tính nguyên tắc về phát triển kinh tế ở Việt Nam. Người khẳng định: “Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai chân là công nghiệp và nông nghiệp... hai chân không đều nhau, không thể bước mạnh được”; cho nên, công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến đích. Người viết “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi: Dùng máy móc trong công nghiệp và nông nghiệp...Muốn có nhiều máy, thì phải mở mang ngành các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu,... Đó là con đường công nghiệp hóa nước nhà” (HCM toàn tập, tập 12, trang 162, 445); 
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, còn nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế phát triển đang xen; trong phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãnh phí, quan liêu. Người chỉ rõ: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc” (HCM toàn tập, tập 14, trang 311); 
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Người luôn quan tâm đến xây dựng lực lượng quân đội và lực lượng công an nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Xây dựng lực lượng vũ trang có bản chất cách mạng, ý thức và trình độ chính trị được tổ chức chặt chẽ và có hệ thống “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”; Người nêu 6 yêu cầu cơ bản đối với người chỉ huy quân sự “Trí - Dũng - Nhân - Tin - Liêm - Trung”; xây dựng thế trận lòng dân, nền quốc phòng toàn dân hùng mạnh, đó là sức mạnh vật chất, nguồn nhân lực và sức mạnh tinh thần, mà lòng dân là sức mạnh đặc biệt to lớn.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân và đại đoàn kết dân tộc
Đối với Hồ Chí Minh, nhân dân là phạm trù cao quý nhất, một phạm trù chính trị chủ đạo trong học thuyết cách mạng của Người “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, Người từng nói với cán bộ “Nếu lãnh đạo khéo thì việc gì khó khăn mấy và to lớn mấy, nhân dân cũng làm được”. Đó là thực tiễn sâu sắc: Phải không ngừng học nhân dân “Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu”, do vậy cán bộ ta “cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy” (HCM toàn tập, tập 10, trang 453; tập 12; trang 492); 
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát luận điểm có tính chân lý về vai trò của Khối đại đoàn kết, đó là: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi... là then chốt của thành công”... Người nói: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài ... ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. (HCM toàn tập, tập 9, trang 244; tập 14, trang 186); 
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa và con người
Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (HCM toàn tập, tập 3, trang 458); 
Do đó, muốn xây dựng nền văn hóa dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì phải xây dựng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý con người. Con người là vốn quý nhất, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Theo người “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” (HCM toàn tập, tập 5, trang 281); và “Người ta ai cũng có tính tốt và tính xấu. Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng”. Tuy nhiên, “thiện” và “ác” không phải tự nhiên mà có, mà “phần lớn là do giáo dục mà ra”. Vì vậy, thái độ của người cách mạng là “phải làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” (HCM toàn tập, tập 10, trang 310);
Cho nên, quan điểm của Hồ Chí Minh luôn đề cập đến chiến lược “trồng người”; “trồng người” là yêu cầu khách quan, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng. Con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chiến lược giáo dục và đào tạo; khi đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, con người xã hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện. Do đó, ngay từ đầu cần đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con người mới xã hội chủ nghĩa, làm gương, lôi cuốn xã hội. Đây là một quá trình lâu dài, phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao; là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình và của chính bản thân mỗi người.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ
Theo Hồ Chí Minh, dân chủ có nghĩa “dân là chủ”; đối lập với quan niệm “quan chủ”, thể hiện bản chất trong cấu tạo quyền lực của xã hội; Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”; “...Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên không bao giờ được quên “dân là chủ”, “mọi quyền hành đều ở nơi dân” 
Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng và ban hành Hiến pháp mới. Hiến pháp năm 1946 đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện quyền lực của nhân dân; ở Chương II gồm 18 điều quy định về nghĩa vụ và quyền lợi công dân. Điều 6 ghi rõ: “Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu trách nhiệm kiểm soát của nhân dân. Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân” (Hiến pháp năm 2013, trang 32);
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền là nhà nước của dân, do dân và vì dân;
Nhà nước của dân là tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân. Nhân dân lao động là chủ nhà nước tất yếu dân đến hệ quả là nhân dân có quyền kiểm soát nhà nước. Nhân dân bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh.
Nhà nước do dân là nhà nước do dân tạo ra và nhân dân tham gia quản lý. Hồ Chí Minh khẳng định: Việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm “ghé vai gánh vác một phần”.
Nhà nước vì dân, là nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu. Tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, mọi công chức, từ nhân viên đến Chủ tịch nước đều do dân ủy thác cho và phải phục vụ nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam mới là một Nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, thể hiện ở các quan điểm:
 Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Nhà nước đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước; nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. 
Đồng thời xây dựng nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Hoạt động quản lý nhà nước phải bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống.
 - Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và đặc thù ở Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, quan điểm của Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn đến Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào đầu năm 1930, nó đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Sau 15 năm, Đảng lãnh đạo nhân dân làm nên cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công; sau 9 năm làm nên chiến thắng Điện Biên phủ trên không lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu; sau 21 năm, làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước...
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Trong điều kiện Đảng trở thành Đảng cầm quyền, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải trở thành thường xuyên. Người chỉ rõ: Quyền lực có tính chất hai mặt. Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng. Mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị thoái hóa, biến chất, biến quyền lực của nhân dân thành đặc quyền của cá nhân.
 Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng về các mặt: Tư tưởng, chính trị; về tổ chức và về đạo đức;
Xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị
Trước hết phải dựa vào lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin để xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, lý luận. Hồ Chí Minh lưu ý: Việc học tập, nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin phải luôn phù hợp với từng đối tượng. Việc vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phải luôn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta trong từng thời kỳ.
Xây dựng Đảng về tổ chức
Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức. Hệ thống tổ chức của Đảng tư Trung ương đến cơ sở phải thật sự chặt chẽ, có tính kỷ luật cao. Trong đó, Người rất coi trọng xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài. Theo Người “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải coi trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” (HCM toàn tập, tập 5, trang 322);
Xây dựng Đảng về đạo đức
Đảng ta là đạo đức, là văn minh, nhờ đó Đảng mới trong sạch, vững mạnh. Trong 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng, Người nhấn mạnh, Đảng là một tổ chức cách mạng chức không phải tổ chức để “làm quan phát tài”. Không như vậy, Đảng sẽ rơi vào thoái hóa, biến chất, tha hóa, xa dân, tự đánh mất sức mạnh tự bảo vệ. Sức mạnh ấy từ dân mà ra, do dân gây dựng, phát triển...
 Ngoài ra, Hồ Chí Minh rất coi trọng và xây dựng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, như: Nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách; nguyên tắc tự phê bình và phê bình; nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh, tự giác và nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Theo Người, muốn đoàn kết thống nhất phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, thường xuyên tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác, phải “sống với nhau có tình, có nghĩa”. “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” (HCM toàn tập, tập 5, trang 622). Có đoàn kết tốt thì mới tạo ra cơ sở vững chắc để thống nhất ý chí và hành động, làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành chỉ như một người” (HCM toàn tập, tập 6, trang 17).
(Còn tiếp)
NVB

Kỳ sau: Đạo đức Hồ Chí Minh

Ủng hộ Công ty Banpu Power Public đến đầu tư tại Sóc Trăng

Sáng ngày 17-9, đồng chí Phan Văn Sáu - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy; cùng các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh có buổi tiếp và làm việc với Công ty Banpu Power Public (Thái Lan). Cùng tham gia có lãnh đạo một số sở, ngành liên quan và đại diện Hội đồng hương Sóc Trăng tại thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiều bàn tay đã vỗ thành tiếng

Tham Đôn là địa phương thuộc xã nghèo của huyện Mỹ Xuyên, nhưng với sự quyết tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cùng sự đồng thuận của nhân dân trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM). Đến nay, Tham Đôn đã cán đích nông thôn mới, diện mạo xã có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân được nâng cao.